MỘT BẾN SÔNG THIÊNG

By NGUYỄN THỊ PHỤNG

MỘT BẾN SÔNG THIÊNG

       Khi nghĩ về thơ, thật sự tôi tâm đắc ý tưởng: “…Dẫu là một tia nắng, thì tia nắng ấy cũng phải vượt cả bát ngát quãng không mà đến/… / Những nhà thơ ba ngày thôi cũng làm ra thơ của nghìn ngày/ Miễn anh đem cái vơi, cái hữu hạn của thời anh múc vào dãi sông đầy/ Ở sự sống của nhân dân vô lượng bể/ Nhân dân- Người mẹ đẻ của muôn đời thi sĩ”(Có một nghề thơ- Chế Lan Viên). Và người Bình Định đã “đem cái vơi, cái hữu hạn của thời anh múc vào dãi sông đầy” ấy hòa cùng làng thơ Việt Nam hiện đại khơi nguồn từ những năm ba mươi chính là Nhà thơ Yến Lan.

        Yến Lan tên thật là Lâm Thanh Lang, sinh năm 1916 tại quê nhà An Nhơn. Sáng tác thơ khi còn rất trẻ, kể từ những năm 1932 cho đến cuối đời 1998. Đáng kể nhất là thơ tứ tuyệt, có thể minh chứng lời Trúc Thông đã nhận xét: “Trong số lưa thưa bậc hảo hán của thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại, Yến Lan thuộc loại “bố già”. Một “bố già” hiền lành. Không cân quắc, ngang tàng, vang động. Nhưng vẫn đầy cốt cách trong cung cách âm thầm...”, chững chạc từ một nhà giáo giàu độ bền sâu lắng:

           “Em đến xin hồng hồng chửa nụ
            Hôm nay hồng nở bóng em xa

            Cầm em bữa trước em không ở
            Giờ biết làm sao cầm được hoa”.
                         (Cầm chân em, cầm chân hoa)

      Một tiếng lòng bộc bạch thanh cao mà trăn trở:

         “Nhà không vườn, không gác, không sân

          Tôi nợ đời rau trái tôi ăn

          Nợ hàng xóm trưa hè bóng mát

          Nợ em cài bên cửa một vầng trăng”.

                                                         (Nợ)

         Vậy là món “nợ” thi nhân đâu chỉ ở hàng mấy trăm bài tứ tuyệt có thể kể như: Xuân muộn, Chị đi, Rượu mơ uống ở chùa Hương, Nhà xưa, Chèo, Lữ thứ, Nhường, Vô tình mà hữu hình (Gửi tặng Quách Tấn), Mừng bạn có nhà (Gửi Chế Lan Viên), Mùa chim di cư (Tặng Phùng Quán), Họa mi trong lồng (Tặng Quang Dũng), Đi qua nhà 24 Cột Cờ (Nhớ Xuân Diệu),…

         Chọn thơ tứ tuyệt tuy lời ngắn “giải mã” tình dài vời vợi với người thân ruột rà, với bạn bè tri âm, tri kỉ vẫn chưa đong đầy lượng bể. Cái bể nghĩa tình sâu lắng nhất vẫn là Nhân dân. Bởi “Nhân dân- Người mẹ đẻ của muôn đời thi sĩ ” để gắn bó, yêu thương quê hương Bình Định gần gũi nhất. Chẳng có gì lạ khi người đọc bắt gặp những bài thơ dài trên hai mươi câu được viết trong giai đoạn 1935- 1975. Còn cái thời Yến Lan cùng Quách Tấn, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên làm nên một “Bàn thành tứ hữu” cho “Rượu ân tình- Bình Định xứ lên men”, mà trước đó nơi đây đã từng là: “Tăm chiêu mộ nổi trên dòng nước Đạo” hội tụ những bậc anh tài áo vải cờ đào của đất võ và giờ đây mở lối khơi nguồn cho thi ca rạo rực khao khát:

         “Đây là chốn nương mây và cậy nguyệt.

Đàng chờ xe sông nước ước mong thuyền.

Tịch dương liễu không biết mình đang biếc

Tương tư trời tương tư nhạc triền miên.”

                                  (Bình Định 1935)       

       Có thể nói cách ngắt nhịp trong hai câu (không theo ý chủ quan của người viết bài này mà trước đây, tôi thường gặp cô Nguyễn Thị Lan- vợ thi sĩ Yến Lan, sinh thời thường về quê nội ở Phước Lộc thắp hương, cô họ tôi thích sẻ chia: đời làm thơ khởi đầu của dượng con là bài Bến My Lăng, nhưng tiếng nói tâm tình của nhà thơ mới là bài Bình Định 1935 và một số bài thơ viết về quê hương mình, ông tâm đắc nhất mỗi khi đọc đoạn thơ trên) là sự ẩn mình “Tịch dương, liễu không biết mình đang biếc/ Tương tư trời tương tư, nhạc triền miên ”đã khơi được ngọn lửa trái tim dẫu là nương, là cậy tự nhiên: mây, nguyệt ; là chờ, là ước phương tiện: xe, thuyền của người đến hay dù có tịch dương đi chăng nữa, thì thân liễu này cứ miệt mài Tương tư trời tương tư cho biếc khúc nhạc triền miên xanh. Phải chăng cốt cách nghệ sĩ phóng khoáng từ buổi ban đầu tìm ra được giá trị chân thực để định vị mà nung nấu tình yêu xứ sở: “Ôi Bình Định sao nằm trong mãi mãi/ Đĩa dầu vơi, tim cháy ngọn âm âm” (Bình Định 1935) thổi bùng khí thế sục sôi một sức mạnh của giai cấp vô sản quyết giành chính quyền:

         “Bùn rắn lại trên bàn tay cày cuốc

         Trán công nhân rực thét lửa chân đe

         Nét khẩu hiệu, tay huơ bừng ngọn đuốc

         Tay vót căm thù bén những thanh tre

                                    (Bình Định 1945)

        Mỗi bàn tay người Bình Định không chịu làm nô lệ nơi thành Đồ Bàn ngày ấy “huơ bùng ngọn đuốc” hòa chung chiến thắng vang dội kịp thời từ trên mọi miền đất nước: “Tin xa lạ những Ba Tơ, Việt Bắc/ Người kề nhau như kể chuyện truyền kỳ/ Đất ê ẩm dưới đinh giầy Pháp Nhật/ Vội trở mình ôm chặt gót thu đi” đã thắp sáng thêm niềm tin mãnh liệt cho người sáng tác. Bên cạnh sông Côn Bình Định cũng bao tháng ngày vượt qua ghềnh thác về cùng hợp lưu: “Sông Côn chảy qua bảy tầng thác đập/ Tình Trung châu: Hương mật nặng khoang thuyền/ Duyên cá nục, măng le về hội họp/ Phiên chợ Thành vụt tỉnh giấc cô miên”. Và lúc này, niềm vui đong đầy niềm vui “Hai chúng ta bước qua đêm quá khứ/ Ngoảnh đôi đầu không còn thấy bơ vơ”nữa, hạnh phúc dâng trào:

         “Nét mực đỏ gạch dưới hàng nhật ký:

          Đây mùa thơ của dân chủ cộng hòa

                                             (Bình Định 1945).

      Mùa thơ của dân chủ cộng hòa là dấu ấn khó quên trong tâm tưởng thi sĩ Yến Lan hoàn toàn đối lập với thoát li thực tại, đoạn không thể không nhắc đến Bến My Lăng đã làm biết bao nhiêu người cầm bút luận bình. Và hiểu theo cách nào chăng nữa, thì Bến My Lăng toàn bích về một không gian nghệ thuật ngôn từ: trăng rơi vàng trên mặt sách, có con thuyền cùng ông lái buồn để gió lén mơn râu mơ màng thả hồn theo mây gió, điểm thêm chàng kị mã với màu áo ngọc lưu li: “Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi/…/ cònTiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng”. Ông tạc bức tranh đầy thi vị cho dấu lặng buồn, lẽ ra phải có lời hô ứng!... Từ việc khai thác giữa thực và mộng, giữa động và tĩnh đan xen trong hoàn cảnh bến trăng lung linh mà huyền ảo quá, bến sông năm nào nơi người mẹ chợ xa tảo tần lỡ chuyến đò ngang, sinh ra thi sĩ “Tôi lọt lòng ra giữa bến trăng”chăng! Hay bến sông của một cậu bé Lâm Thanh Lang từ lúc lên sáu hớt hãi cùng cha gọi đò khi mẹ mất!... Hay còn là bến sông của bao lượt đi về, là sự mong mỏi đợi chờ một tiếng nói chung, một sự đồng lòng từ xóm làng quê hương mình. Và tôi cho đây là một bến sông thiêng bởi chứa cả hồn thơ Yến Lan dành trọn vẹn về một nơi chôn nhau cắt rốn, nơi ông trưởng thành mà không thể nào quên về hình ảnh người thầy đầu tiên: “Tôi biết thầy lo chuyện nước non/ Lòng phơi như ánh mặt trăng tròn/ Mỗi khi nhắc đến người bôn tẩu/ Tâm sự trào lên ngọn bút son/…”(Thầy tôi). Và người học trò, cây bút trẻ ấy đã chọn “sự sống của nhân dân vô lượng bể” để cứu cánh đâu chỉ riêng mình mà còn cho cả dân tộc và đất nước. Vậy thì Yến Lan, từ sự chuyển tiếp Bình Định 1935, đến Bình Định 1945, Bình Định 1947 đã mở ra một chặng đường thi ca khởi sắc: “Đường cách mạng thơm từng trang lịch sử/ Trong nhớ thương sông núi bớt mơ hồ”, nên Bình Định những ngày này đã bền bỉ, thắt lưng buột bụng: “co lại từng vắt cơm, nắm muối” gian khổ cho cuộc kháng chiến lâu dài:

             “Tin hỏa tốc bạt thếp đèn của quán

               Lửa mài gươm sáng rực xóm Lò Rèn,

               Mẹ binh sĩ lòng khâu theo túi đạn

               Phòng tuyển binh người áo vải chân chen

       Còn những người con trai, con gái Bình Định phải chăng là “chàng kị mã với màu áo ngọc lưu li” ngày xưa ám ảnh triền miên, bí ẩn giờ đã tự giác vượt sông trở thành chiến sĩ quả cảm để có mặt cùng với nhân dân trên từng chặng đường, những địa danh quen thuộc:

               “Trai Bình Định ôm bom vào Tú Thuỷ, 

                Ngự đèo Nhong hay canh bãi Vân Sơn. 
                Gái quạt trấu cũng hoá thành dũng sĩ, 
                Cầu Bà Di đẩy dựng những toa goòng
”. 

         Với thái độ tích cực của một thi nhân biết tách mình ra khỏi mộng mị mơ hồ, Yến Lan đã đi tìm về thực tại từ bến sông ắp đầy kỉ niệm “Mưa đưa thương nhớ về làng/ Mưa làm xa những dặm đàng, bến sông”(Đi trong nắng mới) cho tới những ngày xa quê nhà, vẫn trọn vẹn thân thương thuở nào: “Tên mảnh đất non cao che lũng thấp/ Ôm nương rẫy nắng vàng theo màu sáp/ Vị hồ tiêu trát ấm cả trung châu/ Tỏa hơi say rời bến những thuyền trầu”(An Lão), ngỡ bình yên với tên gọi An Lão, nhưng khi giặc càn áp giải cùng băng đạn tuần khuya thì cả làng không hề chùng bước, bền gan chiến đấu đến cùng: “Đất An Lão đâu nằm im chịu giặc/ Rẫy dứa  hầm chông, ngọn cau liên lạc/ Anh cầm cày, chị bắt ốc ven sông/ Đặt bẫy, gài mìn chờ cuộc phản công”(An Lão).

        Rồi bù lại sau bao đêm trường khắc khoải âu lo, mong đợi, lời thơ như thủ thỉ ngân vang khúc khải hoàn: “Thôi không còn sốt ruột nữa em/ Cái ta chờ, cái ta đợi ngày đêm/ Tất đã đến và hôm nay đã đến/ Cờ Giải phóng rợp dày trên cửa biển/ Thành phố những dân ca đầy sự tích anh hùng”(Hôm nay đã đến, Bình Định ơi!), những xôn xao tiếp nối xôn xao dâng trào sau bao năm xa cách, vỡ òa hạnh phúc cho mỗi người con đi xa nay trở về cùng gia đình sum họp, đất nước liền một dải :

         “ Xanh sắc lại, mênh mông trời rộng mở

            Hồn ta nay ước choáng cả không gian

            Ơi Bình Định, từ con tim ấp lửa.

            Bừng lên – bừng thành một cuộc hoa đăng

                                         (Bình Định 1975-1976)

           Vậy là Bình Định từ lúc “Đĩa dầu vơi, tim cháy ngọn âm âm” đến khi “con tim ấp lửa” đã “Bừng lên- bừng thành một cuộc hoa đăng” như chính cuộc đời và sự tồn tại về cái Bến My Lăng của ông. Hơn mười lăm năm qua, kể từ rằm tháng tám năm Mậu Dần (1998), từ tâm nguyện “Hồn ta nay ước choáng cả không gian”, không chỉ là “Những nhà thơ ba ngày” mà cả giai đoạn! Điều đó đủ khẳng định những bài ấy mang tính thời sự, nhưng rất vĩnh cửu, nên Yến Lan “cũng làm ra thơ của nghìn ngày” rồi! Bởi thơ ông đâu chỉ kịp thời phản ánh cuộc kháng chiến trường kì chống ngoại xâm của nhân dân Bình Định nói riêng, mà trước đó còn cổ vũ phong trào đấu tranh giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Tôi tin chắc rằng, Yến Lan- “Dẫu là một tia nắng , thì tia nắng ấy cũng phải vượt cả bát ngát quãng không mà đến” với chúng ta rồi. Cái tia nắng ấy như là sự kế thừa, nhắc nhở, nâng niu gìn giữ. Nếu chỉ chú trọng Yến Lan với thơ tứ tuyệt, là kịch thơ, là truyện ngắn,… thì ta quý tấm lòng thi sĩ tài hoa. Còn những bài thơ viết về Bình Định, giả sử có thể gom lại thành một trường ca, ta càng trân trọng bản lĩnh Nhà thơ đúng nghĩa được viết hoa!

                                                 Phước Lộc, 01. 3. 2016

                                                        Nguyễn Thị Phụng.

More...

NGUYỄN NGUY ANH ra đi một ngày trong tháng Giêng

By NGUYỄN THỊ PHỤNG

NGUYỄN NGUY ANH ra đi một ngày trong tháng Giêng

 

LÊ THIẾU NHƠN
 
Sáng sớm 10-2-2016 ( mùng 3 Tết Bính Thân) nhà thơ Nguyễn Nguy Anh đi bộ thể dục tại thành phố Thủ Dầu Một – Bình Dương thì không may bị một chiếc taxi đụng vào và hất văng xa 10 mét. Nhà thơ qua đời ngay tại hiện trường vụ tai nạn giao thông, hưởng thọ 62 tuổi. Giữa mùa xuân yên vui, một con người hiền lành phải từ giã nhân gian nồng ấm vì một sự cố đớn đau. 
 
Nhà thơ Nguyễn Nguy Anh sinh năm 1954 tại Tuy Phước – Bình Định. Tuổi 30, ông đã là hiệu trưởng một trường phổ thông cơ sở, rất được trọng vọng và yêu mến trên mảnh đất quê hương. Cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, thu nhập của giáo viên rất thấp. Hơn nữa, người cháu là Huỳnh Phi Dũng đang giai đoạn phát triển sự nghiệp ở Bình Dương, cứ tha thiết mời, nên Nguyễn Nguy Anh quyết định rời bục giảng vào miền Đông Nam bộ làm lại từ đầu.
 
Huỳnh Phi Dũng có biệt danh Dũng Lò Vôi lúc ấy, hay Huỳnh Uy Dũng- ông chủ Khu du lịch Đại Nam bây giờ, gọi Nguyễn Nguy Anh là cậu. Vừa muốn giúp cháu, vừa muốn giúp mình, Nguyễn Nguy Anh vào làm kế toán cho hai công ty quan trọng nhất hình thành nên tài sản đại gia Huỳnh Uy Dũng là Thanh Lễ và Hoàng Gia Cát Tường. Ngày chia lìa mái trường để cất bước tha phương, Nguyễn Nguy Anh viết bài thơ để tâm sự với con mà cũng để an ủi mình:   
Suốt đời dạy học của ba 
Không đủ mua một chiếc xe Cub 
Vẫn ở mái nhà tranh lụp xụp 
Nuôi con ngày hai bữa cho qua 

Suốt đời dạy học của ba 
Còn lại gì sau trang giáo án 
Đạo đức con người theo năm tháng 
Âm thầm chắp cánh ước mơ xa 

Suốt đời dạy học của ba 
Con cảm nhận tâm hồn cao thượng 
Lớp học trò đi về bốn hướng 
Gieo mùa xuân lặng lẽ quê xa.
 
Có cháu là ông chủ, lại ở vị trí gần túi tiền, Nguyễn Nguy Anh vẫn từ tốn và khiêm nhường, như cốt cách nhà giáo vốn có của mình. Nguyễn Nguy Anh không bia rượu, không thù tạc, chỉ làm tròn bổn phận, chẳng kênh kiệu với ai mà cũng chẳng lạm dụng điều gì. Tiền lương mỗi tháng, Nguyễn Nguy Anh chi tiêu dè sẻn, số còn lại đều gửi về cho vợ ở quê, để nuôi con và để phụng dưỡng mẹ già. 
 
Đứa cháu doanh nhân ngày càng nhiều của cải, thỉnh thoảng liếc mắt thấy người cậu thui thủi, cũng kéo đi giao lưu với những bậc giàu sang phú quý, nhưng Nguyễn Nguy Anh đều ôn tồn xin vắng mặt. Nguyễn Nguy Anh chỉ có niềm vui duy nhất sau những chứng từ sổ sách thu chi, là làm thơ. Nguyễn Nguy Anh nương tựa vào thơ để bái vọng mẹ già cô quạnh chốn chôn nhau cắt rốn: “Mẹ ơi con bỗng chợt buồn. Con xa mẹ - Nhìn chuồn chuồn – Nhớ quê”, để tạ lỗi phấn trắng bảng đen một thời gắn bó: “Em có về trường xưa. Nhắn giùm anh nỗi nhớ” và hoài niệm ký ức thân quen: “Tiếng chim vườn cũ năm, mười. Hớp hồn ta nửa nụ cười nhân gian”
 
Khi dành dụm được một khoản nho nhỏ, Nguyễn Nguy Anh mua đất cất nhà ở Thủ Dầu Một và đưa cả vợ con vào sống chung tại Bình Dương. Căn nhà của Nguyễn Nguy Anh trong một con hẻm trên đường Thích Quảng Đức, rất tĩnh lặng. Cái vẻ bình dị và đơn sơ của căn nhà, hoàn toàn phản ánh đầy đủ phẩm chất của người đàn ông trụ cột trong căn nhà ấy. 
 
Cách đây 2 năm, vừa tròn 60 tuổi, Nguyễn Nguy Anh lập tức về hưu mà không cần nấn ná thêm ngày nào. Hai đứa con đã trưởng thành, Nguyễn Nguy Anh không muốn vướng bận lợi ích đồng xuôi đồng ngược, dù ông có quyền ngồi lại cái ghế kế toán ở tập đoàn tư nhân ấy rất lâu nữa, với tư cách một thành viên trong gia tộc, mà không ai thắc mắc gì. Nguyễn Nguy Anh muốn được thanh thản với thơ, nhất là được phát hiện và vun đắp những cây bút trẻ vùng đất đỏ đã cưu mang ông. Nguyễn Nguy Anh lập trang web Áo Trắng Bình Dương cũng với mục đích đó.
 
Thơ Nguyễn Nguy Anh mộc mạc và trong trẻo như chính con người của ông. Suốt đời Nguyễn Nguy Anh chỉ dụng công viết những vần thơ nhịp nhàng và thanh thoát, về thời cắp sách thân thương. Nguyễn Nguy Anh đã có được khoảng trời lặng lẽ riêng mình để vơi đầy tâm tư: “Một ngày trong tháng giêng. Chơi rong hoài cũng chán. Nấp mình sau con sóng. Bỗng thấy lòng nhẹ tênh”.
 
Đáng tiếc, sáng sớm mùng 3 tết Bính Thân, sau khi đưa lên trang web Áo Trắng Bình Dương bài thơ “Bên thềm mùa xuân” đầy cảm xúc thong dong: “Hạnh phúc đã về qua hơi thở. Một người đứng đợi. Bên thềm mùa xuân”, Nguyễn Nguy Anh đi bộ thể dục theo thói quen, thì gặp tai nạn…
62 mùa xuân khép lại với Nguyễn Nguy Anh, bất ngờ và bàng hoàng. Định mệnh quá nghiệt ngã với một con người đôn hậu. Vĩnh biệt nhé, Nguyễn Nguy Anh! Trong lòng bạn bè văn chương vẫn còn một nhà thơ Bình Dương luôn có cách hành xử thật đứng đắn và nụ cười thật khoan dung!
                                             Phú Yên, 10-2-2016

More...

THƠ VỚI TỪNG GIAI ĐIỆU

By NGUYỄN THỊ PHỤNG

THƠ VỚI TỪNG GIAI ĐIỆU
Mỗi bài thơ với một cảm xúc riêng
Đất nước quê hương con người cuộc sống
Đất nước ta có trời xanh lồng lộng
Quê hương là nơi cắt rốn chôn rau
Và con người biết chia sẻ thương nhau
Cuộc sống yên vui dạt dào hạnh phúc…

Ta yêu sao mỗi bài thơ cảm xúc!
Trong trái tim nồng ấm cả quê hương
Đất nước đau thương luôn ở chiến trường
Chắc tay súng nhằm quân thù mà bắn…
Hậu phương cũng dãi dầu mưa nắng
Gié lúa trĩu vàng hũ gạo nuôi quân
Trên từng chặng đường nhộn nhịp bước chân
Nối tiếp cha anh gieo mầm sự sống
Hạt muối chia đôi ấm tình khoai sắn
Rất tự hào khi nhắc chuyện ngày xưa…

Dưới lũy tre xanh hay những rặng dừa …
Nhịp sống quanh ta là trường ca bất tận
Bởi yêu nhiều tâm hồn thêm phấn chấn
Thật diệu kì ôi cảm xúc nên thơ!...
20.3.2007/ NTP

More...

DUYÊN CHỮ

By NGUYỄN THỊ PHỤNG

DUYÊN CHỮ
Từ a cho đến chữ y
Ráp vần nên ý nghĩa từ lại tuôn
Nặng không ngã hỏi sắc huyền
Thanh âm trầm bổng con thuyền nhẹ trôi
19.12.2008 / NTP

More...

NGÀY XƯA ƠI- TẶNG CÁC CHÁU THẢ DIỀU.wmv

By NGUYỄN THỊ PHỤNG

More...

DẠT DÀO TÌNH YÊU

By NGUYỄN THỊ PHỤNG

      Sau khi đọc lại thêm những trường hợp đạo thơ trên trang báo số 14 15 16 17 … của VNT tôi cứ trăn trở một số nhà văn nhà thơ cầm nhầm tác phẩm của người khác tôi cũng không lấy gì làm ngạc nhiên Vân Bích đã xuất bản hơn 10 tập thơ rồi giờ anh ở độ tuổi 87 vẫn biết là kính lão đắc thọ mà sao tôi cứ ưng ức!...
        Tôi viết bài cảm nhận này trước khi biết thêm…
                 DẠT DÀO TÌNH YÊU
(Đọc Đôi bờ hư thực thơ Vân Bích NXB Văn hóa-văn nghệ TP HCM)
 
http://farm3.anhso.net/upload/20110410/20/o/anhso-202535_DSC06724.jpg


          Đến một lúc nào đó trời đất lại gần nhau hơn và điều gì xảy đến ai mà biết được chuyện ấy thuộc về các nhà khoa học ta cũng chẳng cần bàn. Nhưng với bốn mùa hương sắc lung linh hiện hữu dạt dào cho cảm xúc thơ ca của thi nhân tuôn trào. Giữa trời đất bao la ấy nhà thơ thấy mình trẻ mãi mà sao “ Đôi bờ hư thực” (NXB Văn hóa- Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh 2011) là tập thơ thứ mười một của Vân Bích có những trăn trở nuối tiếc bên cạnh những ngọt ngào yêu thương xen lẫn tự hào về con người và đất nước dấu yêu.

More...

NGHE ĐỌC “THƠ GỞI CHÂN MÂY”*

By NGUYỄN THỊ PHỤNG

Xin giới thiệu tập thơ Lãng đãng giữa đời của Trần Viết Dũng vừa mới tái xuất bản( xem ở trang cuongde.org)
Hay:...
Nguyễn Sĩ Hạnh
Cuối mùa thu nam bán cầu 2011
  PS. Xin các bạn bấm vào đây để tới chỗ tải tập thơ xuống. Cách trình bày là để cho tiện đọc trong Adobe Reader tuy nhiên nếu có máy in được duplex (hai mặt) thì các bạn có thể in ra dùng dạng Booklet (sẽ in ra khổ trang A4 xếp đôi lại) cho gọn và đỡ tốn giấy mực.

NGHE ĐỌC “THƠ GỞI CHÂN MÂY”*                    
Tặng anh Trần Viết Dũng
 
http://farm3.anhso.net/upload/20110404/10/o/anhso-102949_DSC06222.jpg
Em ngồi bên võng đu đưa
Thơ tình thủ thỉ chỉ vừa em nghe
Cuộc đời sao cứ khắc khe
Từ khi nhẫn cưới đã xe duyên rồi
Bây giờ chuyện cũ bồi hồi
Chân mây thuở trước nổi trôi thế nào?!
Nghe trong hoa lá khát khao
Ngẩn ngơ mưa nắng ngọt ngào tình xưa…
28.12.2008 / Nguyễn Thị Phụng
_________
*Tên bài thơ của Trần Viết Dũng

More...